Điều trị
  • Xây dựng phòng khám thành cơ sở y tế uy tín nhất Hà Nội.
Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám Cơ sở y tế 0124 589 8686

Tổng quan điều trị Thoát vị đĩa đệm cột sống

1. Điều trị nội khoa.

1.1. Bất động.

- Là biện pháp cần thiết trong điều trị đau thắt lưng cấp và thoát vị đĩa đệm nặng. Nằm bất động tương đối trên phản cứng, ở tư thế ngửa, 2 chân hơi co ở khớp gối và khớp háng để chùng cơ và giảm áp lực nội đĩa đệm (có thể cho gối tròn đệm vào vùng khoeo). Thời gian bất động 1-2 ngày, nếu nặng có thể 5-6 ngày. Khi gần hết thời gian bất động thì bắt đầu cho vận động tăng dần: ngồi dậy, đi lại, tập một số động tác thể dục nhẹ.

- Khi nằm bất động lâu cần đề phòng loét điểm tỳ: bằng co duỗi chân, nghiêng người nhẹ nhàng, đệm lót lớp chăn mỏng.

1.2. Thuốc giảm đau chống viêm, giãn cơ.

- Thuốc giảm đau: uống hoặc tiêm tùy mức độ, các thuốc có thể dùng là:

+ Aspirin pH8 0,5 liều 1-3g/24h chia 2-3 lần.

+ Thuốc khác như: Voltaren, Profenid, Mobic, Vioxx...

Cần chú ý chọn liều thấp nhất có tác dụng, theo dõi chặt chẽ các tác dụng phụ đặc biệt là thuốc có thể gây viêm loét dạ dày, hành tá tràng.

Có thể dùng các thuốc xoa bóp hoặc dán ngoài như: thuốc mỡ nọc rắn, methyl salicylat, cao dán, cồn xoa bóp... Không nên dùng các thuốc có steroid.

- Thuốc giãn cơ: nếu có co cơ cạnh sống gây vẹo và đau nhiều thì dùng các thuốc giãn cơ vân như: Myonal 50mg ngày 3 lần mỗi lần 1 viên, Mydocalm 50mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Décontracyl 250mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Diazepam 5mg ngày uống một lần 1-2 viên trước khi đi ngủ.

1.3. Các phương pháp dùng thuốc tại chỗ.

- Các phương pháp phong bế:

+ Phong bế cạnh cột sống thắt lưng: tiêm Novocain vào các điểm cạnh cột sống thắt lưng (chính là thủy châm các du huyệt thuộc kinh Bàng quang).

+ Phong bế rễ thần kinh ở khu vực lỗ ghép: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở khu vực lỗ ghép mỗi lần 15-20ml thuốc tê hoặc có thể thêm corticoid. Mỗi đợt điều trị tiêm 4-5 lần, cách hai ngày một lần.

+ Tiêm ngoài màng cứng vùng thắt lưng: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở ngoài màng cứng với hỗn hợp Novocain 0,5%, Vitamin B12, Hydrocortison 125mg hoặc Dexamethason 30mg, mỗi lần tiêm 5-10ml, mỗi tuần tiêm hai lần, mỗi đợt tiêm 4-5 lần.

+ Phong bế hốc xương cùng: tiêm vào hốc xương cùng 20-30ml thuốc tê có thể trộn thêm corticoid, mỗi tuần 2 lần, mỗi đợt tiêm 4 lần.

- Tiêm corticoid vào đĩa đệm để điều trị hư đĩa đệm nặng.

2. Điều trị bằng các phương pháp vật lý và châm cứu.

2.1. Nhiệt trị liệu.

Thường dùng nhiệt nóng như đắp paraffin 450C, túi chườm nóng, chiếu hồng ngoại... vào vùng thắt lưng 20-30 phút có tác dụng giảm đau, giãn cơ. Nhiệt khối của sóng ngắn và vi sóng có tác dụng rất tốt nhất là đối với viêm thần kinh hông to (đặt dọc dây thần kinh).

2.2. Điện trị liệu.

- Dòng điện một chiều đều: thường dùng kết hợp điện di các thuốc Novocain, Natri salicylat có tác dụng giảm đau, chống viêm.

- Các dòng điện xung thấp và trung tần có tác dụng làm giảm đau và giãn cơ do ức chế đường dẫn truyền cảm giác đau lên não:

+ Dòng Diadynamic: phối hợp CP+LP, MF+CP, MF+LP, DF+CP, hoặc DF+LP để giảm đau, giãn cơ, có thể thay đổi kiểu xung ở lần điều trị sau để tránh hiện tượng quen.

+ Dòng TENS: có tác dụng kích thích thần kinh hướng tâm qua da để giảm đau. Dòng TENS là loại xung có tần số 60-80Hz, có thể biến đổi xoay chiều, một chiều và biến đổi thời gian xung.

+ Dòng Trọbert (còn gọi là dòng 2-5), đặt điện cực dọc cột sống có tác dụng giảm đau do phản xạ, tốt nhất là khi đã dùng các dòng xung kia mà không có tác dụng nhiều.

+ Dòng giao thoa với 2 cặp điện cực (IF): có tác dụng xoáy sâu mà không gây rát.

2.3. Siêu âm điều trị.

Siêu âm chế độ liên tục hoặc xung vào 2 bên cột sống thắt lưng và dọc theo dây thần kinh hông to. Cường độ tùy từng vùng, nếu 2 bên cột sống thắt lưng ở chế độ liên tục có thể dùng 0,6-1W/cm2. Vùng mông cho siêu âm liên tục thì dùng 1-1,2W/cm2. Vùng cẳng chân siêu âm liên tục là 0,4-0,6W/cm2. ở các vùng trên nếu dùng chế độ siêu âm xung thì cường độ có thể tăng gấp đôi.

2.4. Xoa bóp, bấm huyệt.

Xoa bóp vùng cột sống thắt lưng ở giai đoạn đau cấp cần thao tác nhẹ nhàng tránh những tác động mạnh có thể làm đau tăng. ở giai đoạn đau mạn có thể thực hiện đầy đủ các thao tác xoa bóp mạnh như xoa, vuốt, bóp, chặt, rung... Kết hợp ấn bấm các điểm đau cột sống (các huyệt thuộc mạch Đốc trên gai đốt sống), các điểm đau cạnh sống (là các du huyệt thuộc kinh Bàng quang) và các điểm đau chạy dọc đường đi của dây thần kinh hông to (các huyệt thuộc kinh Bàng quang).

2.5. Kéo giãn.

2.5.1. Kéo xương chậu:

Kéo xương chậu tại giường có hai cách:

- Bệnh nhân nằm sấp với chân giường nâng cao thêm 25cm.

- Bệnh nhân nằm ngửa ở tư thế Fowler biến đổi.

Trọng lượng kéo xương chậu tùy thuộc tuổi và trọng lượng cơ thể, sự co thắt cơ nhiều hay ít, có bệnh tim mạch hay không ? Trung bình trọng lượng tạ kéo là 10-15kg, thời gian kéo là 15-20 phút, mỗi ngày kéo 1-2 lần.

2.5.2. Kéo giãn cột sống:

Kéo giãn cột sống là tác động cơ học vào vùng kéo nhằm làm mở rộng khoang gian đốt (với trọng lực 30-40kg, sau 20 phút, có thể kéo rộng 1-1,5mm), khôi phục lại cân bằng lực cơ của các hệ thống dây chằng. Ngoài ra còn có tác dụng lâm sàng giảm đau (do giãn cơ, giảm áp lực nội đĩa đệm, giải phóng chèn ép thần kinh). Tăng dần vận động của cột sống, khôi phục vị trí đĩa đệm, giảm các di chứng (mất đường cong sinh lý, lệch vẹo cột sống...).

Có các phương pháp kéo sau:

- Kéo bằng tự trọng trên bàn dốc: lực kéo được điều chỉnh bằng độ dốc của bàn so với mặt phẳng nền, độ dốc càng lớn thì lực kéo càng lớn. Nhược điểm của phương pháp này là lực kéo dàn đều từ chỗ kéo (nách) xuống mà không tập trung lực vào vùng thắt lưng.

- Kéo trên bàn kéo có hệ thống lực đối trọng là các quả cân: Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn, cố định vùng thắt lưng, tiến hành kéo bằng các quả tạ. Phương pháp này có ưu điểm là có thể điều chỉnh trọng lực kéo dễ dàng, lực kéo tập trung vào vùng cột sống thắt lưng, đầu tư phương tiện rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là tạo ra lực kéo liên tục gây cho cột sống và các tổ chức xung quanh tình trạng căng giãn kéo dài có thể gây đau sau kéo hoặc gây khó chịu cho bệnh nhân trong thời gian kéo.

- Kéo trên hệ thống bàn - máy kéo: Sử dụng máy kéo tự động cho phép điều chỉnh trọng lực kéo, chọn lực nền, lực cơ sở, đặt thời gian...

Với kéo cột sống thắt lưng nên chọn lực nền bằng 1/3 trọng lượng cơ thể, lực kéo bằng 1/2 trọng lượng cơ thể trong lần kéo đầu, các lần sau mỗi lần tăng thêm 1kg đến khi đạt tới 2/3 trọng lượng cơ thể thì duy trì lực này cho đến hết đợt kéo. Thời gian duy trì lực kéo khoảng 10 giây, thời gian tăng lực từ lực nền đến lực kéo (độ dốc) nhanh hay chậm cần căn cứ vào mức độ co cứng cơ của bệnh nhân. Nếu đau cấp và co cứng cơ nhiều thì độ dốc cần tăng từ từ. Thời gian kéo 1 lần từ 15-20 phút, mỗi ngày kéo một lần, mỗi đợt kéo 10-15 ngày.

- Kéo giãn cột sống dưới nước: là hệ thống kéo giãn kết hợp thủy liệu, kéo trong bể sâu 2m với nhiệt độ ấm cho giãn cơ lúc kéo.  

2.6. Tác động cột sống (manipulation).

- Phương pháp Chiropractic (Mỹ): dựa vào cơ chế sinh - cơ học của đĩa đệm cột sống để tiến hành nắn chỉnh cột sống bằng tay nhằm giải phóng chèn ép, và giảm đau.

- Quy trình nắn chỉnh cột sống của Nguyễn Văn Thông (1992).

+ Làm mềm các cơ ở lưng, mông bằng các phương pháp như xoa bóp, nhiệt nóng, điện xung... thời gian khoảng 15-20 phút:

+ Làm giải phóng đoạn cột sống bị tắc nghẽn với 4 thao tác sau:

+ Điều chỉnh đoạn cột sống trên khu vực bị tắc nghẽn.

+ Làm mạnh các cơ giữ cột sống (cơ lưng to, cơ bụng) và làm chuyển động các khớp cột sống, khớp chậu hông.

2.7. Chương trình tập Williams.  

Chương trình tập Williams được dùng để điều trị cho bệnh nhân đau lưng mạn tính, nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng và nhóm cơ gấp xương hông, đồng thời làm tăng sức mạnh của các cơ bụng và mông. Có 6 động tác trong bài tập này như sau:

610 So Do Bai Tap Williams

Hình 6.10. Sơ đồ bài tập Williams

1/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối hơi cong và hai chân được cố định, bật người ngồi dạy và với tay tới ngón chân. Động tác này làm mạnh cơ bụng và giãn cơ duỗi thắt lưng.

2/ Bệnh nhân nằm ngửa, co hai chân vuông góc, hai tay duỗi xuôi thân người, đồng thời nhấc mông lên khỏi mặt giường điều trị. Tiến hành xoay khung chậu về 2 phía để làm thắt lưng thẳng hơn. Động tác này nhằm làm mạnh cơ bụng và cơ mông, làm giãn cơ gấp khớp hông.

3/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối co, hai tay ôm lấy hai đầu gối rồi kéo mạnh lên đồng thời nâng cằm lên cho chạm đầu gối. Giữ tư thế này 15 giây rồi nằm dài ra nghỉ. Hoặc hai tay vẫn giữ tư thế ôm gối rồi bật người ngồi dậy. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng dưới.

4/ Bệnh nhân ngồi, duỗi thẳng hai gối, đưa tay thẳng ra tới ngón chân. Bài tập này nhằm làm giãn khối cơ duỗi lưng và cơ tứ đầu đùi.

5/ Bệnh nhân một chân phía trước gấp, một chân phía sau duỗi, hai tay chống xuống đất ở phía trước, rồi ép chậu hông xuống. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ gấp hông (cơ thắt lưng chậu) mà không làm tăng độ ưỡn của cột sống.

6/ Bệnh nhân ngồi xổm và đầu cúi, hai bàn chân đặt cách nhan 30cm, tay để thẳng hướng về phía sàn nhà và ở giữa hai gối. Động tác này nhằm làm giãn nhóm co duỗi thắt lưng.

Trong mỗi lần tập, mỗi động tác trên được tiến hành 5-10 lần tuỳ sức chịu đựng.

2.8. Châm cứu.

- Đau lưng cục bộ chủ yếu chọn các huyệt thuộc kinh Bàng quang như: Thận du, Mệnh môn, Đại trường du, Thứ liêu, Dương lăng tuyền, Uỷ trung, Thừa sơn, và A thị. Có thể chọn thêm các huyệt Hoa Đà Giáp Tích (ngang mỏm gai các đốt sống đo ra 0,5 thốn). Nếu đau thần kinh hông to, chọn các huyệt chủ yếu thuộc kinh Bàng quang và kinh Đởm: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Đại trường du, Thừa phù, Uỷ trung, Thừa sơn, Côn lôn... Mỗi lần chọn 3-5 huyệt, khi châm mỗi huyệt đều đạt đến cảm giác đắc khí lan xuống dưới.

- Nếu dùng điện châm, nên chọn dòng xung gai nhọn hoặc chữ nhật, có tần số từ 20-150Hz, chú ý mắc các cặp điện cực sao cho dòng điện đi qua điểm đau, hoặc chạy dọc theo đường đi của dây thần kinh hông to, điều chỉnh cường độ đến dưới ngưỡng đau sau đó cứ vài phút thì tăng cường độ lên một chút. Có thể kết hợp vừa châm vừa chiếu hồng ngoại vào vùng đau.

3. Điều trị can thiệp.

3.1. Phẫu thuật mổ mở kinh điển

Năm 1928, Alajuanine và Dutaillis tiến hành phẫu thuật thành công cho một trường hợp lồi đĩa đệm thắt lưng, có gây đau rễ thần kinh hông to mạn tính. Trong Y văn có đề cập tới hai đường mổ chính là:

- Đường trước cột sống ngoài phúc mạc: Lore A.E (1939), Moore (1948), Humphries A.W (1959), Adam JJ (1965)…

- Đường mổ phía sau: Mixter và Barr (1934), Semmes (1939), Solenwi V.I (1989), Saritz M.H (1991)…

Về phẫu thuật cột sống cổ: năm 1934 Mixter và Barr đã báo cáo 4 trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống cổ được phẫu thuật cắt cung sau qua đường mổ phía sau. Năm 1950, Badgley, Cloward, Robinson, Smith phẫu thuật bằng đường mổ phía trước lấy đĩa đệm cột sống cổ kèm với kết xương giữ hai thân đốt sống. Từ đó đã có nhiều nghiên cứu sâu về thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Hirsch (1960), Roberson (1973) đã phẫu thuật lấy đĩa đệm đường cổ trước không kết xương mà vẫn đạt kết quả như kết xương.

3.2. Các phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn (minimal invasive discectomy)

Hóa tiêu nhân bằng chymopapain:

Chymopapain là 1 trong 3 loại men đã được chiết xuất từ cây đu đủ Carica papaya. Từ năm 1964, L.Smith đã chứng minh khả năng làm tiêu tan nhân nhầy ở người của men chymopapain, nhưng không gây tổn thương chất tạo keo (colagen) của vòng sợi đĩa đệm. Năm 1983, việc sử dụng tiêm tinh chất đu đủ thực hiện rộng rãi ở nước Mỹ. Nhưng từ năm 1999, phương pháp này bị cấm tại Mỹ do để lại khá nhiều biến chứng. Ở Việt Nam chưa thấy có báo cáo về phương pháp điều trị này.

Phương pháp cắt đĩa đệm qua da (percutaneous nucleotomy)

* Phương pháp cắt đĩa đệm qua da bằng tay (percutaneous nucleotomy)

Tác giả thực hiện trên 136 bệnh nhân cho kết quả thành công là 72%. Mặc dù phương pháp cắt đĩa đệm qua da bằng tay là một ý tưởng mới nhưng về mặt kỹ thuật không được sử dụng rộng rãi vì:
- Ống thông (canule)lớn: 5-8mm
- Nguy cơ tổn thương các mạch máu và thần kinh lớn
- Nhiều lỗ chọc đĩa đệm, nguy cơ nhiễm trùng, viêm đĩa đệm sau mổ
- Không thực hiện được nếu lần trước đã phẫu thuật
- Không vào được L5-S1 do ngách bên quá nhỏ
Scheiber báo cáo 109 trường hợp với tỷ lệ thành công là 72%,nhưng tỷ lệ biến chứng khá cao là 19%. Do đó phương pháp này dần dần ít được sử dụng.

* Phương pháp cắt đĩa đệm qua da tự động (Automated percutaneous lumbar discectomy)

Gary Onik, 1984, đã thiết kế và giới thiệu kỹ thuật lấy đĩa đệm qua da tự động. Năm 1993, Ravel đã nghiên cứu so sánh tiêm chất đu đủ với cắt đĩa đệm qua da tự động. Năm 1945 Chalter Jee nghiên cứu so sánh phương pháp cắt đĩa đệm vi phẫu cho thấy các kết quả tốt tương ứng của các phương pháp là 9/39 (29%) và 32/40 (80%)

Maroon, trong nghiên cứu riêng cho khoảng 2000 ca, theo dõi trong 5 năm thấy tỷ lệ thành công của cắt đĩa đệm qua da tự động chỉ 59% trong khi đó vi phẫu cắt đĩa đệm với tỷ lệ thành công khá cao là 90%.

Cũng chính vì vậy phương pháp trên ngày nay hầu như không sử dụng vì hiệu quả không cao so với phẫu thuật khác, thậm chí không bằng mổ mở.

Phương pháp sử dụng năng lượng sóng laser để tiêu nhân nhày đĩa đệm

Thủ thuật giảm áp đĩa đệm cột sống bằng laser qua da (percutaneous laser disc decompression – PLDD)  được D.Choy (Hoa Kỳ) và P.Ascher (Đức) đề xuất vào năm 1986. Bệnh nhân đầu tiên được hai bác sỹ này điều trị bằng thủ thuật PLDD tại Bệnh viện Graz (cộng hòa Áo) vào cuối năm 1986. Cục quản lý Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấp phép cho thủ thuật này  vào năm 1991.

Phương pháp sử dụng sóng radio để tạo hình nhân nhầy đĩa đệm sử dụng công nghệ coblation (phương pháp này còn gọi là nucleoplasty)

Nucleoplasty là một kỹ thuật ít xâm lấn nhằm làm giảm áp lực nội đĩa đệm bằng cách sử dụng công nghệ coblation. Công nghệ coblation là một quá trình không tạo ra sức nóng, có kiểm soát, sử dụng năng lượng của sóng cao tần để kích thích chất điện phân ở trong môi trường dẫn, giống như dung dịch muối, tạo ra một đám mây điện tích. Năng lượng phân tử của đám mây điện tích đủ để phá vỡ các liên kết bên trong tổ chức mô, làm cho các tổ chức mô bị phân hủy ở nhiệt độ tương đối thấp (40-70oC). Kết quả là sự tiêu hủy của phần mô cần lây với tổn thương tổ chức xung quanh là ít nhất. Bởi vì sóng cao tần không tác động trực tiếp lên tổ chức mô trong quá trình coblation nên nhiệt độ của tổ chức là giảm tối thiểu. Hầu hết nhiệt lượng này được sử dụng cho đám mây điện tích hay nói cách khác là quá trình ion hóa.

Những ion này sẽ tấn công tổ chức trên đường đi của nó, là nguyên nhân gây phá vỡ các liên kết và phân hủy tổ chức. Đây chính là điểm ưu việt của công nghệ coblation so với các phương pháp dùng để cắt hoặc đốt tổ chức ở nhiệt độ >100oC như: sử dụng dao điện, sử dụng laser. Thay vì phá hủy tổ chức ở nhiệt độ cao, coblation có thể phân hủy tổ chức đích với tổn thương ít nhất tới mô xung quanh. Đã có nhiều tác giả báo cáo về kết quả của phương pháp này. Năm 2002, Cesaroni, khi nghiên cứu  khoảng 800 bệnh nhân điều trị bằng sóng cao tần, theo dõi sau 4-5 năm không thấy đau lại là 70% đối với cột sống thắt lưng và 85-91% đối với cột sống cổ, hầu như rất hiếm biến chứng và các biến chứng đều nhẹ như viêm đĩa đệm.

Phương pháp mổ thoát vị đĩa đệm vi phẫu (microdiscectomy)

Năm 1965, Gazi Yazasrgil nghiên cứu và giới thiệu dụng cụ và kỹ thuật vi phẫu. Đây là cuộc cách mạng trong ngành phẫu thuật thần kinh, trong đó có vi phẫu thuật lấy nhân đĩa đệm. Nguyên lý của phẫu thuật là sử dụng màn tăng sáng để xác định chính xác vị tgris cần vào đĩa đệm, sử dụng hệ thống banh vết mổ của Williams (bề rộng 2cm và sâu khoảng 5-7cm). Năm 1978, tác giả báo cáo 532 trường hợp phẫu thuật vi phẫu cắt đĩa đệm, các bệnh nhân này chủ yếu là các vũ công. Ông nhận thây sau phẫu thuật họ trở lại sàn diễn rất nhanh. Maroon qua nghiên cứu 2500 ca phẫu thuật vi phẫu cắt đĩa đệm có một vài nhận xét: đây là phẫu thuật nhanh, thời gian trung bình từ 30 phút đến 1 giờ. 90% bệnh nhân sau mổ giảm đau từ tốt đến rất tốt. Tỷ lệ biến chứng như: tổn thương rễ, rách màng cứng dưới 1,5%. Tỷ lệ phải mổ lại theo dõi lâu dài sau 5-10 năm là dưới 5%. Tỷ lệ thành công từ 88% đến 98,5% qua nhiều tác giả báo cáo. Maroon cho rằng đây là phương pháp có kết quả tốt hơn các phương pháp trước đây ông đã áp dụng như tiêm tinh chất đu đủ, cắt đĩa đệm qua da tự động, nội soi cắt đĩa đệm qua lỗ liên hợp.

Phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu nội soi (microendoscopic discectomy, MED)

Nội soi ứng dụng trong mổ thoát vị đĩa đệm từ rất lâu. Năm 1986, Schreiber đã sử dụng dụng cụ nội soi để cải tiến kỹ thuật lấy đĩa đệm qua da của Hijikata. Tác giả sử dụng 2 đường vào: một đường vào để lấy đĩa, đường kia bên đối diện để đặt dụng cụ nội soi. Đay là kỹ thuật cho phép quan sát đĩa đệm thoát vị và rễ thần kinh trong ống sống. Tác giả sử dụng một đường vào với một đường cáp quang nhỏ và một ống thông 6 mm để qua đó đưa các dụng cụ để thao tác lấy đĩa đệm. Kỹ thuật này rất phù hợp với các thoát vị bên, thoát vị lỗ liên hợp. Năm 1998, Smith và Folley đã giới thiệu kỹ thuật MED và thực hiện cho 100 bệnh nhân. Kết quả rất tốt là 85%, kết quả tốt là 11%, thời gian nằm viện trung bình là 9,5 giờ.

Phẫu thuật nội soi lấy đĩa đệm (arthrocopic discectomy or endoscopic discectomy)

Việc sử dụng nội soi cột sống bắt đầu từ khi Burman ở New York sử dụng dụng cụ nội soi để khám phá ra các bệnh lý trong ống sống vùng đuôi ngựa trên xác người.
Năm 1938, Pool đã phát triển hệ thống nội soi dành cho thăm dò vùng túi cùng màng cứng tủy trên người sống.

Ý nghĩa thực sự của phẫu thuật nội soi cột sống được tính từ năm 1998 khi mà các nghiên cứu về vùng tam giác phẫu thuật và các mốc trên X quang để đưa dụng cụ nội soi vào được sáng tỏ.

Nếu bạn còn có thắc mắc hãy nhấp chuột chọn [Bác sĩ chuyên khoa tư vấn] để được các chuyên gia tư vấn cụ thể hơn hoặc có thể gọi theo số 0124 589 8686 - 0162 6266 589 để được giải đáp và đặt lịch hẹn khám miễn phí. Tốt nhất bạn nên đến Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám để các bác sĩ khám và tư vấn trực tiếp.

Bài liên quan

4 ƯU THẾ CỦA LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC SO VỚI LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC


Liệu pháp
không dùng thuốc

Độ chính xác: Liệu pháp không dùng thuốc do chỉ tác động cục bộ vào cơ quan, vị trí đau nên có độ chính xác cao, không ảnh hưởng toàn thân

Hiệu quả: Tác dụng giảm đau và giảm viêm mạnh xuất hiện ngay sau điều trị. Phối hợp nhiều phương pháp giúp điều trị cả căn nguyên và triệu chứng của bệnh.

Độ an toàn: Độ an toàn cao, không ảnh hưởng toàn thân, không có tai biến và biến chứng trong và sau điều trị.

Nguy cơ tái phát: Kết quả điều trị được duy trì bền vững, khả năng khỏi đau trong thời gian kéo dài do khối thoát vị đã bị thu nhỏ hoặc mất.

Liệu pháp dùng thuốc

Độ chính xác: Thuốc dùng dù uống, tiêm hay phong bế đều gây tác dụng toàn thân, nên có thể ảnh hương đên cơ quan khác

Hiệu quả: Tác dụng giảm đau và giảm viêm mạnh xuất hiện ngay sau điều trị. Nhưng không có thuốc hay phương pháp nào điều trị triệt để căn nguyên gây bệnh.

Độ an toàn: An toàn không cao, có nhiều nguy cơ tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt là tác hại đối với dạ dày, hành tá tràng.

Nguy cơ tái phát: Kết quả điều trị không bền vững do căn nguyên gây bệnh chưa được giải quyết.

 

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM, THOÁI HÓA CỘT SỐNG

ĐƯỢC PHÒNG KHÁM ĐA KHOA 589 HOÀNG HOA THÁM ÁP DỤNG

Cùng chuyên đề

Điều trị Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Lượt xem:2234 Tìm hiểu Thoát vị Đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng xảy ra khi bao xơ vòng sợi bị rạn rách một phần hoặc mất khả năng chun giãn, tạo điều kiện cho nhân nhầy dịch chuyển khỏi vị trí sinh lý của... Xem thêm

Phòng - tránh bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống

Lượt xem:6140 Tìm hiểu Thoát vị Đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm cột sống luôn là một vấn đề thời sự vì đó là một nguyên nhân phổ biến gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng cũng như đau chân tay. Thoát vị đĩa đệm là... Xem thêm

0124 589 8686

0124 589 8686